Quy trình xử lý bề mặt vít

Các quy trình xử lý bề mặt thường được sử dụng cho ốc vít là...quá trình oxy hóa, điện di, mạ điện, Dacromet bốn loại, phần sau chủ yếu là để vặn vítmàu sắc về phương pháp xử lý bề mặt của bản tóm tắt phân loại.

 

  • Đen oxit

Quá trình làm đen được chia thành hai loại: làm đen ở nhiệt độ phòng và làm đen ở nhiệt độ cao. Ví dụ về quy trình làm đen ở nhiệt độ phòng như sau: tẩy dầu mỡ bằng hóa chất – rửa bằng nước nóng – rửa bằng nước lạnh – loại bỏ rỉ sét và ăn mòn bằng axit – làm sạch – làm đen – làm sạch – sau khi phủ dầu hoặc đóng kín. Đó là một lớp màng oxit được hình thành bởi natri hydroxit và natri nitrit ở nhiệt độ cao hơn 100 độ C.

Thành phần chính của lớp màng oxit là sắt tetraoxit (Fe3C4), độ đồng nhất của màng chỉ khoảng 0,6-1,5 µm, khả năng chống ăn mòn tương đối kém, trong trường hợp không tiếp xúc với dầu hoặc phun muối trung tính kín chỉ chịu được khoảng 1-2 giờ, còn nếu tiếp xúc với dầu thì khoảng 3-4 giờ. Hiện tại, các thiết bị nhỏ không sử dụng quy trình này cho các loại ốc vít. Về màu sắc, oxit đen và kẽm đen cũng tương tự như lớp phủ đen điện phân, nhưng không sáng bóng bằng kẽm đen và lớp phủ đen điện phân.

  • Mạ kẽm

Mạ điện đen có hai loại: kẽm đen và niken đen, nguyên lý của quá trình về cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau ở công thức dung dịch mạ điện và xử lý sau đó bằng dung dịch tạo màng thụ động hoặc dung dịch tạo lớp màng bảo vệ. Kẽm là chất hoạt động hóa học mạnh, dễ bị oxy hóa và sẫm màu trong không khí, cuối cùng tạo ra hiện tượng ăn mòn "gỉ trắng". Sau khi mạ kẽm, xử lý bằng cromat nhằm mục đích phủ một lớp màng chuyển hóa hóa học lên kẽm, làm cho kim loại hoạt động ở trạng thái thụ động, đó chính là quá trình tạo lớp màng thụ động trên kẽm. Về hình thức bên ngoài, màng thụ động có thể được chia thành thụ động trắng (kẽm trắng), xanh nhạt (kẽm xanh), thụ động đen (kẽm đen), thụ động xanh quân đội (kẽm xanh), v.v.

  • Điện di đen

Áp dụng phương pháp điện hóa để lắng đọng các hạt keo nhựa hữu cơ lên ​​các bộ phận nhằm tạo thành lớp phủ hữu cơ nhiều màu sắc, phương pháp điện di đen được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, lấy quy trình đen làm ví dụ: tẩy dầu mỡ - làm sạch - phosphat hóa - sơn điện di - sấy khô. Có thể chia thành điện di anot (ion hóa nhựa thành ion âm) và điện di catot (điện di nhựa thành ion dương), và so với quy trình sơn, hiệu suất thi công tốt hơn, nhưng khả năng chống ô nhiễm và tác hại đến môi trường giảm khi thử nghiệm khả năng chịu muối trung tính trong 300 giờ trở lên, chi phí và khả năng chống ăn mòn tương đương với quy trình Dacromet.

  • Kẽm trắng

Quy trình mạ điện gồm: tẩy dầu mỡ – làm sạch – hoạt hóa bằng axit yếu – mạ kẽm – làm sạch – tạo lớp màng thụ động trắng – làm sạch – sấy khô. Sự khác biệt giữa lớp mạ kẽm đen và dung dịch tạo lớp màng thụ động là không đáng kể. Lớp màng thụ động trắng là một lớp màng oxit kẽm trong suốt không màu, hầu như không chứa crom, do đó khả năng chống ăn mòn so với kẽm đen, kẽm xanh, kẽm màu kém hơn. Tiêu chuẩn công nghiệp là 6-12 giờ, nhưng có những nhà sản xuất mạ có thể cải thiện độ chính xác tỷ lệ của dung dịch tạo lớp màng thụ động để có thể chịu được phun muối trung tính trong khoảng 20 giờ.

Do quá trình xử lý bề mặt mạ kẽm trắng, khi thực hiện thử nghiệm phun muối trung tính, ban đầu trên bề mặt lớp mạ xuất hiện hiện tượng ăn mòn màu trắng, rỉ sét đỏ sau khoảng 40 giờ, vì vậy khả năng chống ăn mòn của kẽm trắng tốt hơn niken trắng. Về ngoại hình, so với niken trắng thì màu sắc của kẽm trắng hơi xanh lục, sự khác biệt giữa kẽm trắng và niken trắng càng lớn.

  • Niken trắng

Quy trình mạ gồm: tẩy dầu mỡ – làm sạch – hoạt hóa bằng axit yếu – làm sạch – lớp nền đồng – hoạt hóa – làm sạch – mạ điện niken – Làm sạch – thụ động hóa – làm sạch – sấy khô – hoặc đóng kín. Quy trình mạ niken đen về cơ bản là giống nhau, chủ yếu là công thức dung dịch mạ khác nhau, ít kẽm sunfua hơn và có thêm chất phụ gia. Niken là kim loại màu trắng bạc hơi vàng, để có vẻ ngoài tốt hơn, người ta sẽ thêm chất làm sáng mạ niken. Khả năng chống ăn mòn của nó và niken đen không khác biệt nhiều, từ 6-12 giờ. Quy trình của các nhà sản xuất nói chung cũng sẽ có lớp phủ dầu hoặc đóng kín, ví dụ như xem xét tác động của sự ăn mòn lên các bộ phận nhựa của vật liệu đầu vào nên cần tập trung kiểm soát xem có nên sử dụng lớp phủ dầu hay không.

  • Kẽm xanh, kẽm xanh lá

Quy trình này về cơ bản giống như đối với kẽm trắng, kẽm xanh là lớp màng oxit kẽm được thụ động hóa chứa 0,5-0,6mg/dm2 crom hóa trị ba. Quá trình thụ động hóa màu xanh lá cây, còn được gọi là thụ động hóa năm axit, có thể thu được một lớp màng màu xanh lá cây dày, dung dịch thụ động hóa chứa các ion photphat, lớp màng màu xanh lá cây bóng mượt thu được là một lớp màng bảo vệ phức tạp, có cấu trúc phức tạp gồm cromat và photphat.

Về khả năng chống ăn mòn, kẽm xanh tốt hơn kẽm trắng, trong khi kẽm xanh lá cây tốt hơn kẽm xanh dương. Màu sắc của kẽm xanh dương hơi ngả xanh, còn kẽm trắng tương đối gần với màu sắc tiêu chuẩn trong ngành nên được sử dụng nhiều hơn, loại sau cũng có thể được dùng làm vật liệu thay thế trong thiết kế sản phẩm khi sản xuất ốc vít.

  • Kẽm tráng men (hóa học)

Trong quy trình mạ kẽm màu, kẽm có khả năng chống ăn mòn tương đối tốt, quy trình thụ động hóa màu của nó như sau: mạ kẽm – làm sạch – xử lý bằng axit nitric 2% – 3% (trừ ánh sáng) – làm sạch – thụ động hóa màu crom thấp – làm sạch – nung – lão hóa. Nhiệt độ thụ động hóa quá thấp sẽ tạo màng chậm, màng mỏng và nhạt màu. Nhiệt độ quá cao sẽ tạo màng dày và lỏng lẻo, không bám chắc. Tốt nhất nên kiểm soát ở khoảng 25 độ để đảm bảo đạt được màu sắc đồng nhất trong một khoảng thời gian nhất định.

Sau quá trình thụ động hóa, cần phải nung và ủ để cải thiện độ bám dính và khả năng chống ăn mòn của lớp màng. Ốc vít mạ kẽm màu có khả năng chịu được phun muối trung tính trong hơn 48 giờ, và có thể chịu được hơn 100 giờ nếu được kiểm tra kỹ lưỡng.

  • Dacromet

DACROMET là từ viết tắt và dịch của nó, tức là lớp phủ bảo vệ dạng vảy gốc muối crom kẽm, còn được gọi là lớp phủ kẽm-nhôm. Quy trình cơ bản là: tẩy dầu mỡ – tẩy dầu mỡ – phủ – nung sơ bộ – thiêu kết – làm nguội. Quy trình thường sẽ được thực hiện từ 2-4 lần, từ khâu phủ đến làm nguội, vì đối với các vít được phủ bằng phương pháp nhúng, để đạt được độ dày nhất định cần phải thực hiện nhiều lần hơn.

Cấu trúc nằm trên bề mặt kim loại, được phủ một lớp dung dịch Dacromet (tức là chứa các vảy kẽm, nhôm [kích thước vảy thường là 0,1-0,2X10-15 micromet] Cr03 và chất hữu cơ đặc biệt trong dung dịch nước hỗn hợp có độ phân tán cao), bằng cách nung giữ nhiệt ở khoảng 300°C trong một khoảng thời gian nhất định, crom hóa trị sáu trong dung dịch Dacromet bị khử thành crom hóa trị ba, tạo ra các hợp chất cromat vô định hình (nCr03) mCr203).

Khả năng chống ăn mòn rất tốt trong môi trường muối trung tính, lên đến 300 giờ hoặc hơn. Nhược điểm của lớp phủ là không đồng đều, có chỗ mỏng 5-10um, có chỗ dày khoảng 40um, điều này sẽ ảnh hưởng đến độ sâu của đường kính vít. Vì vậy, đối với vít tự ren và vít có đường kính nhỏ, tốt nhất không nên sử dụng quy trình Dacromet làm phương pháp xử lý bề mặt.


Thời gian đăng bài: 18/09/2024